Tuy nhiên, thực tế theo dõi lâu dài cho thấy nhiều bệnh nhân có cùng creatinin máu, thậm chí cùng MLCT, nhưng thời gian tiến triển đến đieu tri thay thế thận như lọc máu hoặc ghép thận lại hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt này không phải ngẫu nhiên mà là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố bệnh sinh, lâm sàng và hành vi điều trị.
Trước hết, cần hiểu rằng creatinin máu và MLCT chỉ phản ánh chức năng thận tại một thời điểm nhất định. Đây giống như một “ảnh chụp nhanh” của thận, cho biết hiện tại thận đang làm việc ở mức nào, nhưng không cho biết chắc chắn thận sẽ suy giảm nhanh hay chậm trong tương lai.

Hai bệnh nhân có thể có cùng MLCT hôm nay nhưng tốc độ giảm MLCT theo thời gian hoàn toàn khác nhau. Trong theo dõi CKD, xu hướng thay đổi MLCT qua nhiều tháng, nhiều năm thường có giá trị tiên lượng không kém, thậm chí còn quan trọng hơn một con số đơn lẻ.
Là yếu tố nền tảng đầu tiên chi phối tiến triển bệnh: Các bệnh cầu thận mạn tính, đặc biệt là những bệnh còn hoạt tính miễn dịch và còn protein niệu, thường tiến triển nhanh hơn so với CKD do THA hoặc do lão hóa. Ở nhóm bệnh cầu thận, tổn thương viêm và xơ hóa cầu thận thường đi kèm tổn thương ống,kẽ, làm mất dần nephron một cách liên tục. Ngược lại, ở nhiều bệnh nhân CKD do tăng huyết áp (THA), nếu huyết áp được kiểm soát tốt và protein niệu thấp, chức năng thận có thể ổn định trong nhiều năm. Ngoài ra, nguyên nhân CKD còn quyết định khả năng can thiệp đieu tri. Một số bệnh còn “cửa sổ đieu tri” nếu được phát hiện sớm, trong khi những bệnh đã xơ hóa nhiều thì đáp ứng rất hạn chế.
Cũng ảnh hưởng rõ rệt đến cách diễn giải cùng một mức MLCT. Ở người trẻ, MLCT giảm thường là dấu hiệu bệnh lý rõ ràng và thường gắn với nguy cơ tiến triển cao hơn.
Trong khi đó, ở người cao tuổi, MLCT giảm một phần có thể do lão hóa sinh lý của thận, và nếu không kèm protein niệu hay tổn thương cấu trúc nặng, tiến triển có thể chậm hơn. Về giới, nhiều nghiên cứu cho thấy nam giới có xu hướng tiến triển CKD nhanh hơn nữ giới, có thể liên quan đến yếu tố hormon, nguy cơ tim mạch và lối sống.
Phản ánh mức độ tổn thương mạn tính tích lũy theo thời gian và là một chỉ dấu rất quan trọng về tiên lượng. Khi thận đã nhỏ và tăng âm vỏ, điều đó thường cho thấy nhu mô thận đã xơ hóa nhiều và khả năng hồi phục rất hạn chế.
Ngược lại, ở những bệnh nhân có cùng MLCT nhưng thận còn kích thước bình thường hoặc chỉ tăng âm nhẹ, vẫn còn nhiều nephron hoạt động và cơ hội làm chậm tiến triển sẽ lớn hơn nếu kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ. Vì vậy, cùng một con số MLCT nhưng hình ảnh thận khác nhau sẽ dẫn đến cách nhìn hoàn toàn khác về tiên lượng
Được xem là yếu tố tiên lượng mạnh nhất và độc lập nhất đối với tiến triển CKD. Protein niệu không chỉ là dấu hiệu của tổn thương cầu thận mà còn trực tiếp gây độc cho ống thận, kích hoạt phản ứng viêm và thúc đẩy xơ hóa ống,kẽ thân.
Mức protein niệu càng cao thì nguy cơ suy thận tiến triển càng lớn, bất kể MLCT ban đầu là bao nhiêu. Trên thực tế, nhiều bệnh nhân có MLCT trung bình nhưng protein niệu nhiều sẽ tiến triển nhanh hơn hẳn so với những bệnh nhân có MLCT thấp hơn nhưng protein niệu rất ít. Do đó, trong đieu tri CKD, việc giảm protein niệu được xem là mục tiêu cốt lõi để bảo vệ thận.
Là yếu tố không thể tách rời trong câu chuyện tiến triển CKD. Huyết áp không được kiểm soát làm tăng áp lực trong cầu thận, thúc đẩy quá trình xơ hóa và mất nephron. Hai bệnh nhân có cùng MLCT nhưng một người duy trì huyết áp ổn định, người kia thường xuyên tăng huyết áp hoặc dao động nhiều, thì tốc độ suy thận chắc chắn sẽ khác nhau.
Ở bệnh nhân CKD, kiểm soát tăng huyết áp (THA) không chỉ nhằm phòng biến cố tim mạch mà còn là nền tảng của đieu tri bảo vệ thận.
Ăn mặn kéo dài, hút thuốc lá, ít vận động, tự ý dùng thuốc giảm đau hoặc thuốc không rõ nguồn gốc đều có thể đẩy nhanh tiến triển suy thận.
Thực tế lâm sàng cho thấy nhiều bệnh nhân có chỉ số xét nghiệm ban đầu không quá xấu, nhưng do bỏ thuốc, không tái khám đều đặn hoặc không thay đổi lối sống, nên suy thận tiến triển nhanh hơn dự đoán.
Từ tất cả những phân tích trên, có thể thấy rằng creatinin máu và MLCT chỉ là một phần trong đánh giá CKD. Tiên lượng và quyết định theo dõi, đieu tri phải dựa trên một cái nhìn toàn diện, bao gồm nguyên nhân CKD, protein niệu, kiểm soát THA, hình ảnh thận, tuổi, giới và lối sống của bệnh nhân. Hiểu đúng điều này giúp bệnh nhân bớt hoang mang khi so sánh con số xét nghiệm đơn thuần, đồng thời giúp bác sĩ đa khoa tiếp cận CKD một cách khoa học hơn, cá thể hóa hơn và hiệu quả hơn trong thực hành hằng ngày.
Bệnh nhân nam 58 tuổi, bệnh thận mạn đã được chẩn đoán 3 năm nay. Bệnh nhân cao 165 cm, nặng 62 kg. Creatinin máu 190 µmol/L, MLCT tính theo CKD-EPI = 33 mL/phút/1,73 m², chẩn đoan : CKD giai đoạn 3b. Khi nhìn vào các con số này, nhiều bệnh nhân thường lo lắng rằng thận đã yếu nhiều và nghĩ rằng sớm muộn cũng phải lọc máu.Tuy nhiên, khi khai thác và đánh giá kỹ hơn, bức tranh bệnh lý lại cho thấy một hướng khác. Bệnh nhân có tiền sử THA hơn 10 năm, hiện đang dùng thuốc đều, huyết áp 125-130/75-80 mmHg. Protein niệu 0,2 g/ngày. Siêu âm thận: kích thước còn trong giới hạn bình thường, nhu mô hơi tăng âm nhẹ, chưa có dấu hiệu teo thận rõ. bệnh nhân không hút thuốc, ăn uống tương đối nhạt và tái khám đều đặn.
Với các đặc điểm này, mặc dù MLCT chỉ khoảng 33 mL/phút, nguy cơ tiến triển nhanh đến đieu tri thay thế thận của bệnh nhân được đánh giá là thấp. Thực tế theo dõi sau 4 năm cho thấy MLCT giảm rất chậm, trung bình khoảng 1 mL/phút mỗi năm, và BN vẫn chưa cần chuẩn bị lọc máu.
Cùng thời gian, bệnh nhân nữ 55 tuổi khác với creatinin máu 185 µmol/L và MLCT khoảng 34 mL/phút/1,73 m², gần như tương đương với BN nam kể trên. Nếu chỉ nhìn vào creatinin và MLCT, hai BN này dường như có mức độ suy thận giống nhau. Tuy nhiên, bệnh nhân nữ này có tiền sử VCT mạn nhiều năm, protein niệu luôn từ 2,5 đến 3 g/ngày dù đã đieu tri. Huyết áp thường xuyên ở mức 150-160/90 mmHg, khó kiểm soát. Siêu âm cho thấy hai thận nhỏ, nhu mô mỏng và tăng âm rõ. Bệnh nhân đôi khi tự ý ngừng thuốc vì mệt và lo tác dụng phụ.
Chỉ sau khoảng 2-3 năm theo dõi, MLCT của bệnh nhân này giảm nhanh, xuất hiện thiếu máu nặng, rối loạn phospho-calci và cuối cùng phải vào chương trình lọc máu chu kỳ, dù creatinin ban đầu không cao hơn bệnh nhân thứ nhất.
Như vậy: Hai bệnh nhân trên có creatinin máu và MLCT gần như giống nhau tại thời điểm bắt đầu theo dõi, nhưng diễn tiến hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt này không nằm ở con số creatinin, mà nằm ở nguyên nhân CKD, mức protein niệu, khả năng kiểm soát THA, hình ảnh thận trên siêu âm và mức độ tuân thủ đieu tri.
Thực tê trên cho thấy rằng trong thực hành hằng ngày, việc giải thích cho bệnh nhân rằng creatinin và MLCT không phải là yếu tố duy nhất quyết định tương lai của bệnh thận là vô cùng quan trọng. Đồng thời, đây là một gợi ý để khi đánh giá CKD cần một cái nhìn toàn diện, tránh tiên lượng vội vàng chỉ dựa trên một vài chỉ số xét nghiệm đơn lẻ.
Bài viết này cũng là câu trả lời cho nhiều bệnh nhân thắc mắc về việc tại sao cháu cùng MLCT với chi X anh Y mà cháu lại bị chạy thận sớm hơn.
Tham khảo các sản phẩm chăm sóc sức khỏe chính hãng tại: https://edallyhanquoc.vn/thuc-pham-bao-ve-suc-khoe-edally-bh-han-quoc.html
Mọi thông tin chi tiết về sản phẩm cũng như chính sách đại lý xin vui lòng liên hệ edallyhanquoc.vn qua Hotline/Zalo: 0902.158.663 để được tư vấn và hỗ trợ nhanh nhất.
Nguồn: PGS.TS Đỗ Gia Tuyển - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Chia sẻ bài viết:
.png)
건강미인의 에너지 비법
TRUNG TÂM TINH DẦU THÔNG ĐỎ HÀN QUỐC EDALLY BH
BT 09 - KĐT Resco, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam
Phố Tăng, Đông Hưng, Thái Bình, Việt Nam
0902.158.663 / 0908.062.668
edallyhq@gmail.com