Theo cập nhật từ Lovegrove SS và Dubbs SB năm 2026, HHS không chỉ là tình trạng tăng đường huyết đơn thuần mà là một hội chứng rối loạn chuyển hóa toàn thân với tỷ lệ tử vong cao hơn cả nhiễm toan ceton đái tháo đường (DKA).

Trong bối cảnh tỷ lệ đái tháo đường ngày càng gia tăng tại Việt Nam, việc nhận diện sớm và xử trí đúng Tăng áp lực thẩm thấu (HHS) ở bệnh nhân đái tháo đường đóng vai trò sống còn.
Tăng áp lực thẩm thấu (HHS) là một cấp cứu tăng đường huyết nặng, trong đó bệnh nhân rơi vào tình trạng:
Đường máu tăng rất cao, thường trên 600 mg/dL (33.3 mmol/L)
Tăng áp lực thẩm thấu trên 320 mOsm/kg
Không có hoặc chỉ có rất ít ceton
Không có nhiễm toan chuyển hóa rõ
Đặc biệt là có biểu hiện thần kinh, từ lú lẫn, ngủ gà cho tới hôn mê
Hiện nay người ta không còn dùng chữ “hôn mê tăng áp lực thẩm thấu” nữa, vì thực tế bệnh nhân có thể biểu hiện bằng cả một phổ rối loạn tri giác, chứ không nhất thiết phải hôn mê hoàn toàn.
Có người chỉ hơi lơ mơ, chậm chạp, nói khó theo dõi, nhưng về bản chất vẫn là HHS nếu có tăng thẩm thấu đủ mức và triệu chứng thần kinh đi kèm.
Tăng áp lực thẩm thấu (HHS) ít gặp hơn nhiễm toan ceton (DKA), nhưng lại có tỷ lệ tử vong cao hơn, khoảng 5-20%. Không chỉ vì đường máu cao mà vì HHS thường xảy ra ở người lớn tuổi, nhiều bệnh nền, đến viện muộn, đi kèm nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim hay đột quỵ…
Nếu nhiễm toan ceton (DKA) là câu chuyện của thiếu insulin nặng dẫn đến tạo ceton và toan máu, thì HHS lại là câu chuyện của tăng đường huyết kéo dài gây lợi niệu thẩm thấu, mất nước nặng và tăng áp lực thẩm thấu.
Trong HHS, bệnh nhân vẫn còn đủ insulin để ức chế ly giải mỡ và ức chế tạo ceton nên không có tình trạng nhiễm toan ceton rõ như DKA. Chính vì vậy, bệnh nhân HHS nổi bật là tìnhtrạng mất nước sâu và rối loạn tri giác.
Mức độ mất nước trong HHS có thể rất lớn, lên tới 9 lít. Đây là lý do tại sao trong điều trị HHS, bù dịch luôn là nền tảng quan trọng nhất.
HHS thường khởi phát âm thầm hơn DKA, diễn tiến trong vài ngày đến vài tuần, chứ không bùng phát trong vài giờ hay 1-2 ngày như DKA.
Phần lớn bệnh nhân là người có đái tháo đường type 2 đã biết từ trước, nhưng đôi khi HHS cũng có thể là biểu hiện đầu tiên khiến người bệnh được phát hiện đái tháo đường.
Các triệu chứng của tăng đường huyết: tiểu nhiều, khát nhiều, nhìn mờ. Đó là biểu hiện sớm nhưng dễ bị bỏ qua
Mất nước nặng: khô niêm mạc, da giảm đàn hồi, mệt lả, choáng váng, tụt huyết áp tư thế, nặng hơn có thể tụt huyết áp thực sự và sốc.
Triệu chứng thần kinh: lú lẫn, uể oải, ngủ gà, thay đổi hành vi, giảm chú ý, đến hôn mê. Bệnh nhân co giật kèm đường máu tăng cao, HHS luôn phải được nghĩ tới.
Nhiễm trùng là nguyên nhân khởi phát hay gặp nhất. Lưu ý không có sốt không loại trừ được nhiễm trùng.
Ngoài ra, HHS còn có thể được khởi phát bởi hội chứng vành cấp, chảy máu tiêu hóa, chấn thương, thiếu tuân thủ thuốc hoặc thiếu insulin.
Về mặt cận lâm sàng, HHS được gợi ý mạnh khi có bộ xét nghiệm điển hình gồm:
Glucose máu >600 mg/dL
Áp lực thẩm thấu >320 mOsm/kg
pH >7,30
HCO3- >18 mEq/L
Ceton niệu hoặc ceton máu âm tính, vết hoặc rất ít
Công thức áp lực thẩm thấu: 2 × Na đo được + glucose/18 và không tính ure trong công thức này.
Mức độ rối loạn ý thức có tương quan với mức tăng áp lực thẩm thấu.
Rối loạn ý thức nhưng áp lực thẩm thấu dưới 320, thì nên tích cực tìm nguyên nhân khác gây thay đổi tri giác, thay vì quy toàn bộ cho HHS.
Về điện giải, Kali lúc ban đầu có thể thấp, bình thường hoặc thậm chí cao, nhưng tổng lượng kali toàn cơ thể gần như luôn thiếu.
Ngoài xét nghiệm để khẳng định HHS, luôn cần xét nghiệm để tìm nguyên nhân khởi phát, đặc biệt là: Tổng phân tích nước tiểu, X-quang ngực, đánh giá tim mạch nếu nghi hội chứng vành cấp, tìm các ổ nhiễm trùng,…
Điều trị tăng áp lực thẩm thấu (HHS) là một cấp cứu nội tiết đòi hỏi tiếp cận có hệ thống, ưu tiên theo mức độ nguy hiểm. Khác với nhiễm toan ceton, trọng tâm điều trị HHS không phải insulin ngay lập tức mà là bù dịch và phục hồi thể tích tuần hoàn.
Trong HHS, bệnh nhân đang ở trạng thái mất thể tích nặng, tưới máu mô giảm, thận giảm khả năng thải glucose,…Chính giảm thể tích này đang duy trì vòng xoắn tăng đường huyết - tăng thẩm thấu.
Khuyến cáo truyền NaCl 0,9% từ 1000-1500 mL, hoặc 15-20 mL/kg trong giờ đầu tiên.
Sau bolus ban đầu, phải đánh giá lại huyết động và tình trạng thể tích. Nếu bệnh nhân cải thiện, không còn sốc hoặc huyết động ổn hơn, có thể chuyển sang truyền duy trì thay vì tiếp tục bolus.
Loại dịch dùng tiếp theo phụ thuộc vào Natri hiệu chỉnh.
Nếu natri hiệu chỉnh bình thường hoặc tăng, có thể chuyển sang NaCl 0,45% với tốc độ khoảng 250–500 mL/giờ.
Nếu natri hiệu chỉnh thấp, tiếp tục dùng NaCl 0,9%.
Cần theo dõi sát lượng nước tiểu, trạng thái hô hấp và ý thức để điều chỉnh tốc độ dịch cho phù hợp.
Dù ADA thiên về NaCl 0,9% rồi 0,45%, nhưng về mặt thực hành có thể cân nhắc dịch tinh thể cân bằng như Lactated Ringer để giảm nguy cơ toan chuyển hóa tăng clo do truyền nhiều NaCl 0,9%.
Khuyến cáo kiểm tra điện giải trước khi bắt đầu insulin.
Nếu K < 3mEq/L thì chưa được dùng insulin, mà phải ưu tiên bù kali trước.
Nếu kali >3,3 mEq/L, có thể bắt đầu insulin, nhưng ADA khuyến cáo thêm 20-30 mEq kali cho mỗi lít dịch
Kiểm tra lại mỗi 2 giờ trong khi đang truyền insulin tĩnh mạch.
Ngoài kali, nên kiểm tra magnesi, phosphate
Trong HHS là insulin không phải bước đầu tiên. Sau khi bù dịch, nhiều bệnh nhân đã tự giảm glucose đáng kể nhờ cải thiện tưới máu thận và tăng thải glucose.
ADA đưa ra hai cách truyền insulin tĩnh mạch:
Bolus 0,1 U/kg rồi truyền 0,1 U/kg/giờ
Hoặc truyền liên tục 0,14 U/kg/giờ không cần bolus
Mục tiêu là làm glucose giảm với tốc độ khoảng 50-75 mg/dL mỗi giờ. Nếu giảm chậm hơn, có thể tăng dần tốc độ truyền. Nếu giảm quá nhanh, nên giảm liều insulin để tránh tụt áp lực thẩm thấu quá nhanh hoặc gây hạ đường máu
Khi glucose xuống khoảng 300 mg/dL, cần giảm tốc độ insulin còn 0,02-0,05 U/kg/giờ và thêm dịch có glucose, ví dụ D5, nhằm giữ glucose trong khoảng 250-300 mg/dL cho tới khi HHS thực sự được giải quyết.
Tình trạng này chỉ thực sự được coi là đã giải quyết khi bệnh nhân:
Ý thức trở lại bình thường
Và áp lực thẩm thấu máu trở về bình thường
Nói cách khác, trong HHS, tiêu chí hồi phục không đơn thuần là con số glucose.
Khi HHS đã hồi phục, có thể chuyển sang insulin dưới da.
Insulin nền nên được dùng trước khi ngừng insulin tĩnh mạch 1-2 giờ để tránh khoảng trống insulin, giảm nguy cơ tăng đường trở lại hoặc tái phát HHS.
Biến chứng thường gặp nhất là hạ đường huyết, do dùng insulin truyền tĩnh mạch. Vì vậy glucose phải được kiểm tra mỗi giờ khi bệnh nhân đang truyền insulin.
Biến chứng đáng sợ tiếp theo là hạ kali máu, dẫn đến loạn nhịp, yếu cơ hoặc suy hô hấp. Bởi vậy điện giải nên được kiểm tra lại mỗi 2-3 giờ, hoặc chặt hơn nếu bệnh nhân diễn biến thất thường.
Ngoài ra, bệnh nhân cũng có nguy cơ quá tải tuần hoàn và phù phổi, đặc biệt ở người có suy tim hoặc bệnh thận mạn. Với những ca này, phải truyền dịch thận trọng hơn, đánh giá lâm sàng liên tục
Một biến chứng khác là tiêu cơ vân, do mất nước rất sâu.
Biến chứng nguy hiểm nhất, dù ít gặp, là phù não. Cơ chế là glucose giảm quá nhanh làm nước di chuyển vào mô não. Vì vậy bài nhấn mạnh nên giữ glucose trên 250 mg/dL, lý tưởng gần 300 mg/dL trong giai đoạn điều trị để giảm nguy cơ này. Nếu phù não xảy ra, mannitol là điều trị được khuyến nghị.
Lưu ý: Để ổn định đường huyết và chỉ số HbA1c cũng như ngăn ngừa tăng áp lực thẩm thấu (HHS), nhiễm toàn ceton do đái tháo đường và các biến chứng tiểu đường thì người bệnh ngoài tuân thủ điều trị, chế độ ăn uống, vận động thì đừng quên bổ sung mỗi ngày 1-2 viên Tinh dầu thông đỏ Edally Pine Needle Capsule. Các nghiên cứu đăng trên tạp chí BMC Complementary and Alternative Medicine (Anh) và Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine (Ai Cập) năm 2016 và Đại học Havard năm 2018, Tinh dầu thông đỏ Hàn Quốc chứa nhiều chất chống oxy cực hóa mạnh và Lambertianic acid có thể kích thích enzym AMPK (Adenosine monophosphate-activated protein), hỗ trợ trung hòa gốc tự do, chống oxy hóa tế bào, kháng viêm, làm giảm tổng hợp acid béo, giảm sự biệt hóa tế bào mỡ. Từ đó, giảm sản xuất mỡ xấu như LDL, triglyceride, bào mòn dần các mảng xơ vữa bám trong lòng mạch, phá hủy cục máu đông, giúp thông huyết mạch, ổn định đường huyết, ổn định huyết áp, bảo vệ thành mạch, bảo vệ tế bào gan và giảm nguy cơ mắc các bệnh chuyển hóa như tiểu đường, gout, mỡ máu cao… từ đó ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh võng mạc đái tháo đường, suy thận do đái tháo đường…
Tìm hiểu thêm về sản phẩm tại: https://edallyhanquoc.vn/tinh-dau-thong-do-edally-han-quoc-new.html
Mọi thông tin chi tiết về sản phẩm cũng như chính sách đại lý xin vui lòng liên hệ edallyhanquoc.vn qua Hotline/Zalo: 0902.158.663 để được tư vấn và hỗ trợ nhanh nhất.
Nguồn: Lovegrove SS, Dubbs SB. Hyperosmolar Hyperglycemic State. Endocrinology and Metabolism Clinics of North America. 2026
Chia sẻ bài viết:
.png)
건강미인의 에너지 비법
TRUNG TÂM TINH DẦU THÔNG ĐỎ HÀN QUỐC EDALLY BH
BT 09 - KĐT Resco, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam
Phố Tăng, Đông Hưng, Thái Bình, Việt Nam
0902.158.663 / 0908.062.668
edallyhq@gmail.com