Điểm rất quan trọng của bài này là nhấn mạnh việc không chỉ nhìn vào đường huyết. DKA cổ điển thường có tăng đường máu nhưng vẫn có một tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân bị euglycemic DKA (EDKA), tức là có toan ceton nhưng glucose không quá cao.
Bài viết nhấn mạnh bộ ba kinh điển: Tăng đường huyết; Toan chuyển hóa tăng khoảng trống anion; Tăng ceton máu hoặc ceton niệu.
Tiểu nhiều, khát nhiều, sụt cân
Đau bụng, buồn nôn, nôn
Mất nước, yếu mệt
Khó thở, thở nhanh sâu kiểu Kussmaul
Thay đổi ý thức từ lơ mơ đến hôn mê
Hơi thở mùi trái cây
Khám có thể thấy dấu mất nước, nhịp tim nhanh, tụt huyết áp.Nếu có nhiễm trùng đi kèm thì càng dễ nặng.
Bài này nhắc rất rõ rằng khi gặp DKA, không chỉ điều trị DKA mà còn phải tìm được nguyên nhân.
Nhiễm trùng
Không tuân thủ insulin hoặc ngừng insulin
Nhồi máu cơ tim, đột quỵ
Thai kỳ
Ngộ độc, dùng chất
Viêm tụy
Chấn thương
Mới được chẩn đoán đái tháo đường
Một số thuốc như steroid, thiazide, thuốc cường giao cảm, pentamidine, thuốc chống loạn thần,…
Bài viết còn nhắc nhóm “5 I” dễ nhớ: infection (nhiễm trùng), infarction (nhồi máu), infant (pregnancy) (mang thai), indiscretion (Ăn uống không kiểm soát, độc chất), insulin noncompliance (không tuân thủ insulin: bỏ liều, ngừng thuốc).
Cần làm xét nghiệm các chỉ số tương đối đầy đủ ngay từ đầu:
Glucose máu
Công thức máu
Điện giải, ure, creatinin
Magnesium, phosphorus
Khí máu
Anion gap
Lactate
Ceton máu hoặc ceton niệu
Tổng phân tích nước tiểu
Cấy máu nếu nghi nhiễm trùng
ECG để tìm thiếu máu cơ tim hay rối loạn kali
Hình ảnh học (Xquang, CT) không làm thường quy cho mọi ca, mà tùy biểu hiện. Nếu sốt, tụt huyết áp, đau bụng đáng ngại hoặc có dấu hiệu phúc mạc thì chỉ định chụp nên sớm hơn
Glucose: Thường >250 mg/dL, nhưng có thể thấp hơn trong EDKA.
Natri: Hay gặp hạ natri giả do tăng áp lực thẩm thấu vì glucose cao.Nếu natri bình thường hoặc tăng, thường gợi ý mất nước tự do nặng.
Bài này nhắc một điểm thú vị: hệ số hiệu chỉnh natri theo glucose có thể 2.4 mEq/L cho mỗi 100 mg/dL glucose trên 100, thay vì công thức cũ 1.6.
Kali: Kali máu ban đầu có thể bình thường hoặc tăng, nhưng tổng lượng kali toàn thân thường thiếu. Nếu kali thấp ngay từ đầu thì phải xem là dấu hiệu thiếu kali nặng, cần xử trí rất cẩn thận.
Magnesium và phosphorus: Magnesium thường thấp. Phosphat toàn thân cũng có thể giảm, nhưng bài này nói không cần bù phosphat khẩn cấp thường quy, ưu tiên vẫn là kali.
Độ pH và bicarbonate: pH < 7.3 phù hợp với toan trong DKA; Bicarbonate thấp; Anion gap tăng do ceton.
Bài nhấn mạnh việc không cần khí máu động mạch nếu không có câu hỏi về oxy hóa, vì khí máu tĩnh mạch đủ chính xác cho đánh giá toan kiềm trong nhiều trường hợp.
Bạch cầu: Tăng bạch cầu 10.000-15.000 có thể chỉ do stress. Nhưng nếu WBC >25.000 hoặc bandemia >10% thì nên tìm nhiễm trùng thật sự.
Không phải mọi tăng anion gap và ceton đều là nhiễm toan ceton do đái tháo đương (DKA). Bài viết nhắc cần phân biệt với:
Nhiễm ceton do đói (nhịn đói kéo dài)
Nhiễm ceton do rượu
Nhiễm toan lactic
Ngộ độc ethylene glycol, methanol, salicylate
Hội chứng tăng ure huyết
Suy thận cấp
Hội chứng tăng áp lực thẩm thấu do tăng đường huyết
Đây là phần rất hay của bài viết. EDKA là tình trạng có toan ceton nhưng glucose <250 mg/dL (13.9 mmol/L). Tỷ lệ không cao, nhưng rất dễ bỏ sót.
Toan chuyển hóa tăng anion gap
Ceton máu hoặc ceton niệu
Glucose không cao
Có yếu tố nguy cơ đi kèm
Sử dụng SGLT2 inhibitor
Thai kỳ
Nhịn đói hoặc đói kéo dài
Nhiễm trùng
Viêm tụy cấp
Đang dùng bơm insulin
Đã được dùng insulin trước khi đến viện
Bài nhấn mạnh việc sử dụng SGLT2 rất đáng quan tâm. Bệnh nhân dùng nhóm này có thể tăng nguy cơ toan ceton rõ rệt, và bác sĩ cấp cứu phải luôn nghĩ tới.
Ở phụ nữ có thai, EDKA đặc biệt cần cảnh giác vì thai kỳ vốn đã làm tăng xu hướng thiếu insulin tương đối và đề kháng insulin.
Bài viết cho rằng điều trị DKA bắt đầu bằng truyền dịch và có thể khởi động ngay khi mới biết bệnh nhân tăng đường máu, chưa cần chờ đủ toàn bộ xét nghiệm quay lại.
Phần lớn bệnh nhân mất nước rất nhiều, thường cần 4–6 lítdịch bù tổng cộng.
Tác giả thiên về dùng dịch tinh thể cân bằng như:
Lactated Ringer
Plasma-Lyte
Lý do là có thể giảm nguy cơ toan chuyển hóa tăng clo, không tăng anion gap do truyền quá nhiều Natri clorid, đồng thời có thể giúp DKA hồi phục nhanh hơn.
Sau bolus ban đầu, khi bệnh nhân đã gần đẳng tích mà glucose vẫn còn cao, tiếp tục dịch với tốc độ khoảng 150-200 mL/giờ.
Khi glucose xuống <300 mg/dL (16.7 mmol/L) mà anion gap chưa đóng (vẫn còn cao), cần thêm dịch chứa dextrose để vẫn tiếp tục insulin mà không làm tụt đường quá mức. Có thể dùng D5 hoặc D10 theo chiến lược hai túi dịch.
Một điểm rất đáng nhớ của bài là insulin phải được tiếp tục để tắt tình trạng nhiễm toan ceton, chứ không phải chỉ để hạ đường máu.
Bài viết nhấn mạnh:
Tổng lượng kali toàn thân thường giảm
Trước khi truyền insulin, cần chắc chắn K >3.3 mmol/L
Có thể bắt đầu bù kali khi K <4.5 mmol/L
Khuyến nghị bù kali trong bảng của bài:
K < 3.3 mEq/L: bù 20 mEq/giờ IV, trì hoãn insulin
K 3.3-4.0: bù 20 mEq/giờ IV
K 4.0-5.5: bù 10 mEq/giờ
K >5.5: chưa cần bù
Nếu bù >10 mEq/giờ thì nên có theo dõi tim mạch và có thể cần hai đường ngoại vi hoặc đường trung tâm.
Sau khi đã biết kali >3.3, bắt đầu insulin.
Bài viết nêu rằng cả insulin tĩnh mạch và insulin dưới da tác dụng nhanh đều có thể hiệu quả trong DKA, nhưng insulin truyền tĩnh mạch được ưu tiên ở bệnh nhân:
Tụt huyết áp
Đang dùng thuốc vận mạch
Nguy cơ hấp thu dưới da kém
Liều insulin regular IV trong bảng:
Khởi đầu khoảng 0.1 U/kg/giờ
Một số nơi dùng bolus 0.1 U/kg trước, nhưng tác giả không thích bolus thường quy vì làm tăng nguy cơ hạ đường huyết
Nếu glucose không giảm hoặc anion gap không đóng, có thể tăng thêm 0.05-0.1 U/giờ
Nếu glucose giảm quá nhanh thì giảm tốc độ
Vẫn phải duy trì ít nhất khoảng 0.05 U/giờ để tránh tái sinh ceton
Glucose nên giảm khoảng 100 mg/dL mỗi giờ.
Với liều tiêm dưới da:
Liều đầu 0.15 U/kg
Nhắc lại mỗi 2 giờ nếu glucose >250
Mỗi 4 giờ nếu glucose <250
Đây là điểm bài này nói rất rõ: không được ngừng insulin chỉ vì đường máu đã giảm.
Chỉ nên dừng khi:
Anion gap đã bình thường
Bicarbonate >18 mEq/L, nghĩa là toan thực sự đã hết
Tác giả còn nhắc nếu gap đã đóng mà bicarbonate vẫn thấp, có thể bệnh nhân chỉ đang chuyển sang toan tăng clo do dịch truyền, chứ chưa chắc đã hồi phục hoàn toàn, cần nhìn kỹ bối cảnh.
Khi chuyển từ insulin IV sang insulin nền dưới da tiếp tục truyền insulin thêm 2 giờ sau khi tiêm insulin nền rồi mới ngừng truyền
Với bệnh nhân mới chẩn đoán đái tháo đường, bài nêu một cách tính đơn giản:
Tổng liều insulin ngày: 0.5-0.8 U/kg/ngày
50% dùng làm insulin nền, ví dụ glargine
Phần còn lại chia cho các bữa ăn
Sau đó giãn kiểm tra đường máu, sắp xếp tư vấn nội tiết và giáo dục đái tháo đường.
WBC >25.000: tìm ngay ổ nhiễm trùng.
Natri bình thường hoặc tăng trong bối cảnh DKA: nghĩ mất nước tự do rất nặng.
Kali thấp lúc ban đầu: xem như thiếu kali toàn thân nặng.
Hãy nghĩ tới EDKA nếu có toan chuyển hóa và yếu tố nguy cơ, nhất là dùng SGLT2.
Bài kết lại rất thực tế:
Quên tìm yếu tố khởi phát
Quá phụ thuộc vào tăng đường huyết mới nghĩ tới DKA
Chờ đủ cả tăng đường, toan chuyển hoá tăng AG và ceton máu mới chẩn đoán
Không nghi ngờ EDKA ở người dùng SGLT2, người đói kéo dài, giai đoạn chu phẫu hoặc thai kỳ
Phần lớn cần nhập viện, nhiều ca cần ICU hoặc đơn vị chăm sóc trung gian để:
Theo dõi sát ý thức
Đường máu hàng giờ
Điện giải đồ và anion gap lặp lại
Bù điện giải
Điều chỉnh insulin
Một số ít trường hợp rất chọn lọc, ổn định, không có nhiễm trùng hay bệnh kèm nặng, độ tin cậy cao mới có thể cân nhắc cho về. Nhưng đa số vẫn cần điều trị nội trú.
Bài viết truyền tải 4 thông điệp rất rõ:
Thứ nhất, DKA là cấp cứu thường gặp và phải nghĩ đến sớm.
Thứ hai, đừng chẩn đoán chỉ dựa vào glucose, vì có euglycemic DKA.
Thứ ba, điều trị xoay quanh dịch + kali + insulin + xử trí nguyên nhân khởi phát.
Thứ tư, không ngừng insulin cho đến khi anion gap và bicarbonate hồi phục, chứ không phải chỉ vì đường máu đã đẹp.
Ngoài ra, để ổn định đường huyết và chỉ số HbA1c cũng như ngăn ngừa nhiễm toàn ceton đái tháo đường và các biến chứng tiểu đường thì người bệnh ngoài tuân thủ điều trị, chế độ ăn uống, vận động thì đừng quên bổ sung mỗi ngày 1-2 viên Tinh dầu thông đỏ Edally Pine Needle Capsule. Các nghiên cứu đăng trên tạp chí BMC Complementary and Alternative Medicine (Anh) và Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine (Ai Cập) năm 2016 và Đại học Havard năm 2018, Tinh dầu thông đỏ Hàn Quốc chứa nhiều chất chống oxy cực hóa mạnh và Lambertianic acid có thể kích thích enzym AMPK (Adenosine monophosphate-activated protein), hỗ trợ trung hòa gốc tự do, chống oxy hóa tế bào, kháng viêm, làm giảm tổng hợp acid béo, giảm sự biệt hóa tế bào mỡ. Từ đó, giảm sản xuất mỡ xấu như LDL, triglyceride, bào mòn dần các mảng xơ vữa bám trong lòng mạch, phá hủy cục máu đông, giúp thông huyết mạch, ổn định đường huyết, ổn định huyết áp, bảo vệ thành mạch, bảo vệ tế bào gan và giảm nguy cơ mắc các bệnh chuyển hóa như tiểu đường, gout, mỡ máu cao… từ đó ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh võng mạc đái tháo đường, suy thận do đái tháo đường…
Tìm hiểu thêm về sản phẩm tại: https://edallyhanquoc.vn/tinh-dau-thong-do-edally-han-quoc-new.html
Mọi thông tin chi tiết về sản phẩm cũng như chính sách đại lý xin vui lòng liên hệ edallyhanquoc.vn qua Hotline/Zalo: 0902.158.663 để được tư vấn và hỗ trợ nhanh nhất.
Nguồn: Bobbi-Jo Lowie, Michael C. Bond. Diabetic Ketoacidosis. Endocrinology and Metabolism Clinics of North America. 2026
Chia sẻ bài viết:
.png)
건강미인의 에너지 비법
TRUNG TÂM TINH DẦU THÔNG ĐỎ HÀN QUỐC EDALLY BH
BT 09 - KĐT Resco, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam
Phố Tăng, Đông Hưng, Thái Bình, Việt Nam
0902.158.663 / 0908.062.668
edallyhq@gmail.com