Hotline

0902158663
MENU
0
30/03/2026 - 12:04 PMedallyhanquoc.vn 8 Lượt xem

Trong thực hành Nội tiết, chúng ta gặp tăng huyết áp không hề ít. Không chỉ là bệnh nhân đái tháo đường, béo phì, bệnh thận mạn, mà còn là những ca cường aldosterone tiên phát, hội chứng Cushing, cường giáp, suy giáp, pheochromocytoma/paraganglioma hay các khối u thượng thận tình cờ phát hiện.

Vì thế, khi nói đến tăng huyết áp kháng trị (resistant hypertension: huyết áp vẫn chưa đạt mục tiêu dù đã dùng ít nhất 3 thuốc hạ áp khác nhóm ở liều tối đa hoặc tối đa dung nạp), đây không chỉ là câu chuyện của tim mạch hay thận học. Với bác sĩ nội tiết, đây là một chủ đề rất gần, rất thường gặp, và nhiều khi chính chúng ta là người đứng ở cửa vào của chẩn đoán nguyên nhân.

Tăng huyết áp kháng trị

Tăng huyết áp kháng trị

Bài review vừa đăng trên JAMA ngày 23/3/2026 của Azizi và cộng sự có một điểm rất đáng chú ý: tác giả không xem “kháng trị” là một nhãn dán vội vàng dựa trên vài con số đo tại phòng khám. Bài báo nhấn mạnh rằng khoảng 19,7% người bệnh đang điều trị tăng huyết áp có thể rơi vào nhóm gọi là apparent resistant hypertension (kháng trị biểu kiến), nhưng true resistant hypertension (kháng trị thật sự) chỉ khoảng 10% sau khi đã loại trừ đầy đủ các yếu tố gây nhiễu. Nói cách khác, không ít bệnh nhân tưởng là uống mãi không xuống thực ra chưa chắc đã là kháng trị thật. 

1. Muốn chẩn đoán tăng huyết áp kháng trị, phải đi từng bước một cách kỷ luật

Trước hết, phải loại trừ white-coat effect (hiệu ứng áo choàng trắng: huyết áp tăng khi đo ở cơ sở y tế nhưng không tăng thật ngoài đời sống thường ngày). Bài báo cho biết có tới khoảng 37,5% trường hợp kháng trị biểu kiến thực chất rơi vào nhóm này khi được kiểm tra bằng ABPM 24 giờ (đo huyết áp lưu động 24 giờ) hoặc đo huyết áp tại nhà. Sau đó phải nghĩ đến nonadherence (không tuân thủ điều trị), vốn có thể gặp tới 50% ở một số nghiên cứu. Và bước thứ ba, cực kỳ quan trọng với bác sĩ nội tiết, là rà soát secondary hypertension (tăng huyết áp thứ phát: tăng huyết áp do một nguyên nhân nền có thể xác định được).

Trong bài báo nói rất rõ: trong nhóm tăng huyết áp kháng trị, tỷ lệ tăng huyết áp thứ phát cao hơn dân số tăng huyết áp nói chung, vào khoảng 25%, và cường aldosterone tiên phát (primary aldosteronism: tình trạng tuyến thượng thận tiết aldosterone quá mức, gây giữ muối nước và thải kali) là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm khoảng 5%–25%. Với người làm nội tiết, bài review lần này giúp “đặt lại vị trí trung tâm” của aldosterone trong sinh lý bệnh kháng trị. Nghĩa là: nếu gặp một bệnh nhân tăng huyết áp dai dẳng, nhất là có hạ kali máu, u thượng thận, ngưng thở khi ngủ, đái tháo đường, béo phì hoặc bệnh thận mạn, thì việc nghĩ tới cường aldosterone tiên phát gần như phải trở thành phản xạ lâm sàng. 

Không chỉ dừng ở cường aldosterone tiên phát, bảng nguyên nhân thứ phát trong bài cũng nhắc lại rất rõ những bệnh lý mà bác sĩ nội tiết gặp hàng ngày: suy giáp (hypothyroidism), cường giáp (hyperthyroidism), pheochromocytoma/paraganglioma (u tủy thượng thận/u hạch giao cảm tiết catecholamine), và hội chứng Cushing. Điều này rất đáng lưu ý, bởi nhiều bệnh nhân không đến viện vì “nội tiết”, họ đến vì huyết áp khó kiểm soát, đau đầu, hồi hộp, yếu cơ, tăng cân nhanh, hạ kali, hoặc đơn giản là đang dùng quá nhiều thuốc mà huyết áp vẫn cao.

2. Một điểm mạnh khác của bài báo là cách tác giả giải thích sinh lý bệnh tăng huyết áp kháng trị

Tăng huyết áp kháng trị là một vấn đề phức tạp có sự tham gia của aldosterone dư thừa không thích hợp, hoạt hóa hệ giao cảm (sympathetic overactivity: tăng hoạt tính thần kinh giao cảm), endothelin-1, vasopressin, rối loạn chức năng nội mô và quan trọng nhất là quá tải muối - thể tích (volume and sodium overload). Chính vì vậy, ở tăng huyết áp kháng trị, bác sĩ không nên chỉ chăm chăm thêm một thuốc hạ áp cho đủ số, mà phải đánh thẳng vào trục muối - nước - aldosterone. 

Từ góc nhìn thực hành, điều này lý giải vì sao bài review đặt nặng vai trò của chlorthalidone và indapamide hơn hydrochlorothiazide trong tối ưu hóa lợi tiểu. Ở người bệnh có eGFR từ 30 mL/phút/1,73 m² trở lên, hướng dẫn được bài tổng hợp khuyến nghị chuyển từ hydrochlorothiazide sang các thiazide-like diuretics (lợi tiểu giống thiazide, tác dụng kéo dài hơn) như chlorthalidone hoặc indapamide. Phân tích gộp được dẫn trong bài cho thấy hai thuốc này giúp hạ huyết áp tâm thu tốt hơn hydrochlorothiazide. Ngay cả ở bệnh thận mạn giai đoạn 4, chlorthalidone vẫn cho thấy hiệu quả đáng kể trên huyết áp lưu động 24 giờ.

Nhưng nếu phải chọn một “ngôi sao” thì đó vẫn là spironolactone. Trong phân tích gộp mạng lưới gồm 24 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, spironolactone làm giảm huyết áp tâm thu tại phòng khám trung bình khoảng 13,3 mmHg và giảm huyết áp tâm thu lưu động 24 giờ khoảng 8,46 mmHg so với giả dược ở bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị. Nói cách khác, trong bối cảnh chức năng thận và kali cho phép, spironolactone vẫn là lựa chọn add-on có dữ liệu thuyết phục nhất. Điều này hoàn toàn hợp lý về sinh lý bệnh, bởi thuốc này là mineralocorticoid receptor antagonist (MRA: thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid, tức chặn tác động của aldosterone).

Chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp kháng trị theo JAMA 2026

Chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp kháng trị theo JAMA 2026

Tuy nhiên, Spironolactone có thể gây tăng kali máu, suy thận cấp, rối loạn kinh nguyệt ở nữ, đau vú hay gynecomastia (vú to ở nam), cùng các ảnh hưởng nội tiết – sinh dục khác. Điều này rất quan trọng trong thực hành, vì nhiều bệnh nhân nam trẻ hoặc trung niên từ chối dùng tiếp thuốc chỉ vì tác dụng phụ mà bác sĩ không hỏi kỹ. Bài báo gợi ý rằng khi spironolactone không dung nạp được, có thể cân nhắc amiloride hoặc eplerenone. Đáng chú ý, một thử nghiệm ngẫu nhiên ở Hàn Quốc cho thấy amiloride liều thấp không kém hơn spironolactone liều thấp trong việc hạ huyết áp tại nhà sau 12 tuần. Còn eplerenone có ưu điểm là ít tác dụng phụ kiểu kháng androgen hơn nhưng nhìn chung tác dụng hạ áp yếu hơn spironolactone.

3. Một điểm nữa rất đáng suy ngẫm là bài báo kéo lối sống trở lại đúng vị trí của nó trong việc điều trị tăng huyết áp kháng trị

Trong nhiều ca tăng huyết áp kháng trị, thay đổi lối sống thường bị xem như phần “nói cho có”. Nhưng số liệu trong bài cho thấy: Giảm natri xuống dưới 1500 mg/ngày, dùng muối thay thế chứa kali ở người phù hợp, giảm cân, tập aerobic đều đặn, hạn chế rượu, và điều trị OSA (obstructive sleep apnea: ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ) đều có thể giúp hạ huyết áp thêm vài mmHg, thậm chí khoảng 7 mmHg ở một số can thiệp. Trong bệnh lý tim mạch, vài mmHg không bao giờ là con số nhỏ. Bài báo còn nhắc rằng chỉ cần giảm 5 mmHg huyết áp tâm thu đã gắn với giảm biến cố tim mạch lớn trong các thử nghiệm ngẫu nhiên. 

Với người làm nội tiết, bệnh nhân của chúng ta thường đồng thời có béo phì, kháng insulin, đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa, ngưng thở khi ngủ và nhiều rối loạn hành vi ăn uống - vận động. Nghĩa là quản lý tăng huyết áp kháng trị không thể chỉ là đổi thuốc. Đây là bài toán toàn thân, đa cơ chế, và cần cách nhìn hệ thống. Một bệnh nhân béo phì có OSA, đái tháo đường và hạ kali máu nhẹ không phải là “ca tăng huyết áp khó trị đơn thuần”; rất có thể đó là bệnh nhân đang phát tín hiệu của một rối loạn nội tiết - chuyển hóa sâu hơn.

4. Bài JAMA cũng dành chỗ cho renal denervation (cắt thần kinh giao cảm thận qua ống thông) trong điều trị tăng huyết áp kháng trị

Đây là lĩnh vực từng gây nhiều tranh cãi, nhưng dữ liệu mà bài tổng hợp cho thấy hiệu quả hạ áp là có thật: phân tích gộp 10 thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy thủ thuật này giúp giảm khoảng 4,4 mmHg huyết áp tâm thu lưu động 24 giờ và 6,6 mmHg huyết áp tâm thu tại phòng khám so với thủ thuật giả. Tuy vậy, thông điệp của bài rất cân bằng: không phải bệnh nhân nào cũng đáp ứng, phần lớn vẫn cần tiếp tục thuốc, và thủ thuật này chỉ nên đặt ra sau khi đã xác nhận kháng trị thật, loại trừ nguyên nhân thứ phát và tối ưu hóa điều trị nội khoa. Với bác sĩ nội tiết, điều này càng củng cố một nguyên tắc: trước khi nghĩ tới can thiệp, phải chắc rằng mình không bỏ sót một cường aldosterone tiên phát, một hội chứng Cushing, hay một u tiết catecholamine.

Như vậy, khi gặp một bệnh nhân huyết áp khó kiểm soát, đừng vội gọi là “kháng trị”. Hãy hỏi: đã đo đúng chưa? đã có huyết áp tại nhà hoặc ABPM chưa? bệnh nhân có thực sự dùng thuốc đều không? có thuốc nào đang làm tăng huyết áp không? có OSA không? có hạ kali máu không? có u thượng thận, cushingoid, triệu chứng cường giáp, suy giáp, cơn catecholamine hay không? Chỉ sau khi trả lời được những câu hỏi đó, ta mới thực sự bắt đầu điều trị tăng huyết áp kháng trị theo đúng nghĩa.

Ngoài ra, để ổn định huyết áp cũng như ngăn ngừa biến chứng tiểu đường thì người bệnh ngoài tuân thủ điều trị, chế độ ăn uống, vận đông thì đừng quên bổ sung mỗi ngày 1-2 viên Tinh dầu thông đỏ Edally Pine Needle Capsule. Các nghiên cứu đăng trên tạp chí BMC Complementary and Alternative Medicine (Anh) và Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine (Ai Cập) năm 2016 và Đại học Havard năm 2018, Tinh dầu thông đỏ Hàn Quốc chứa nhiều chất chống oxy cực hóa mạnh và Lambertianic acid có thể kích thích enzym AMPK (Adenosine monophosphate-activated protein), hỗ trợ trung hòa gốc tự do, chống oxy hóa tế bào, kháng viêm, làm giảm tổng hợp acid béo, giảm sự biệt hóa tế bào mỡ. Từ đó, giảm sản xuất mỡ xấu như LDL, triglyceride, bào mòn dần các mảng xơ vữa bám trong lòng mạch, phá hủy cục máu đông, giúp thông huyết mạch, ổn định đường huyết, ổn định huyết áp, bảo vệ thành mạch, bảo vệ tế bào gan và giảm nguy cơ mắc các bệnh chuyển hóa như tiểu đường, gout, mỡ máu cao… từ đó ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim,…

Tinh dầu thông đỏ Hàn Quốc Edally Pine Needle Capsule - Bí quyết đẩy lùi tăng huyết áp kháng trị

Tinh dầu thông đỏ Hàn Quốc Edally Pine Needle Capsule - Bí quyết đẩy lùi tăng huyết áp kháng trị

Sản phẩm tham khảo: https://edallyhanquoc.vn/tinh-dau-thong-do-edally-han-quoc-new.html

Mọi thông tin chi tiết về sản phẩm cũng như chính sách đại lý xin vui lòng liên hệ edallyhanquoc.vn qua Hotline/Zalo: 0902.158.663 để được tư vấn và hỗ trợ nhanh nhất.

Tài liệu nền của bài viết:

Azizi M, Vongpatanasin W, Fisher NDL, Mahfoud F, Amar L, Kirtane AJ. Diagnosis and Management of Resistant Hypertension: A Review. JAMA. Published online March 23, 2026. doi:10.1001/jama.2026.1221.

Tin liên quan

Làm Cách Nào Chẩn Đoán Hội Chứng Cushing? Làm Cách Nào Chẩn Đoán Hội Chứng Cushing?
Đối với nhiều Bác sĩ, có lẽ bài Nội tiết khiến họ bị hack não nhiều nhất là hội chứng Cushing. Hầu hết nếu thấy nghi ngờ thì cho đi chụp CT/MRI bụng hay...
Nhiễm Toan Ceton Do Đái Tháo Đường Cập Nhật Mới Nhất 2026 Nhiễm Toan Ceton Do Đái Tháo Đường Cập Nhật Mới Nhất 2026
Nhiễm toan ceton do đái tháo đương (DKA) là một cấp cứu nội khoa thường gặp, có thể đe dọa tính mạng và cần chẩn đoán, xử trí sớm. Bệnh hay gặp ở đái...
Tăng Ferritin Máu Là Gì, Có Nguy Hiểm Không? Tăng Ferritin Máu Là Gì, Có Nguy Hiểm Không?
Ferritin là một chỉ số sinh học quan trọng trong xét nghiệm máu nhưng lại thường bị hiểu sai hoặc bỏ qua trong thực hành lâm sàng.
Vì Sao Điều Trị Mụn Viêm Nặng Càng Nhiều Càng Nặng Hơn? Vì Sao Điều Trị Mụn Viêm Nặng Càng Nhiều Càng Nặng Hơn?
Không ít Spa gặp tình huống: khách bị mụn viêm nặng, điều trị nhiều buổi nhưng cải thiện chậm, thậm chí bùng phát mạnh hơn sau khi điều trị.
Vì Sao Rất Nhiều Phụ Nữ Bị Nám Sau Sinh Nhưng 3-5 Năm Sau Vẫn Không Hết? Vì Sao Rất Nhiều Phụ Nữ Bị Nám Sau Sinh Nhưng 3-5 Năm Sau Vẫn Không Hết?
Nếu hỏi 10 người bị nám sau sinh vì sao da mình xuất hiện những mảng nâu ở hai bên gò má, có lẽ 9 người sẽ trả lời là “Do nội tiết.”
Nám Sau Sinh Và Phác Đồ Xử Lý Hiệu Quả Nám Sau Sinh Và Phác Đồ Xử Lý Hiệu Quả
Có những chị sau sinh, nám xuất hiện vài tháng rồi không chịu mờ đi, mà cứ ở lì trên da 2 năm, 3 năm, thậm chí 5 năm. Qua giai đoạn bỉm sữa bận rộn rồi, con...
Nám Trên Nền Da Yếu - Những Sai Lầm Thường Gặp Và Hướng Xử Lý Nám Trên Nền Da Yếu - Những Sai Lầm Thường Gặp Và Hướng Xử Lý
Trong hành trình chăm sóc da cho các chị em, có một kiểu khách hàng mà chúng tôi gặp nhiều. Các chị em nhắn tin với một mong muốn rất rõ: “Chị muốn xử lý n...
Nám Sau Treatment - Hiểu Để Chăm Sóc Da Hiệu Quả Hơn Nám Sau Treatment - Hiểu Để Chăm Sóc Da Hiệu Quả Hơn
Nám sau treatment là tình trạng tăng sắc tố xuất hiện hoặc tái phát sau các liệu pháp can thiệp da như laser, peel da hóa học, lăn kim, sử dụng retinoids nồng độ cao...
Vì Sao Omega-3 Giúp Giảm Viêm Ở Người Tiểu Đường? Vì Sao Omega-3 Giúp Giảm Viêm Ở Người Tiểu Đường?
Omega-3 là nhóm acid béo không no chuỗi dài, trong đó quan trọng nhất là: EPA (Eicosapentaenoic Acid), DHA (Docosahexaenoic Acid), ALA (Alpha-linolenic acid).
Đái Tháo Đường Thực Chiến - Cập Nhật Từ AACE 2026 Đái Tháo Đường Thực Chiến - Cập Nhật Từ AACE 2026
Đái tháo đường không còn là một căn bệnh xa lạ, nhưng điều đáng lo ngại là cách quản lý của nhiều người vẫn đang dừng lại ở mức “kiểm soát đường...

Chia sẻ bài viết: 



Bình luận:

Danh mục sản phẩm

Làm Thế Nào Để Hồi Sinh Làn Da Lão Hóa? Làm Thế Nào Để Hồi Sinh Làn Da Lão Hóa?
Lão hóa da là quá trình tự nhiên không thể tránh khỏi, nhưng bạn có thể làm chậm và cải thiện tình trạng này bằng các biện pháp chăm sóc da đúng cách.

Tại Sao Phải Trẻ Hóa Màng Đáy Trong Điều Trị Nám? Tại Sao Phải Trẻ Hóa Màng Đáy Trong Điều Trị Nám?
Tăng sắc tố da, bao gồm nám, tàn nhang và đốm đồi mồi, ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi và chủng tộc. Các phương pháp điều trị hiện tại thường...

Lợi Khuẩn Và Vai Trò Đối Với Hàng Rào Bảo Vệ Da Lợi Khuẩn Và Vai Trò Đối Với Hàng Rào Bảo Vệ Da
Hàng rào sinh học là lớp phòng thủ đầu tiên của hàng rào bảo vệ da. Đây là một quần thể các vi sinh vật sinh sống trên da bao gồm lợi khuẩn, hại khuẩn, nấm,......

Cường Giáp Nên Kiêng Ăn Gì Và Lưu Ý Gì Về Chế Độ Ăn Để Phục Hồi Sức Khỏe? Cường Giáp Nên Kiêng Ăn Gì Và Lưu Ý Gì Về Chế Độ Ăn Để Phục Hồi Sức Khỏe?
Hormone tuyến giáp duy trì sức khỏe tốt bằng cách giữ cho cơ thể hoạt động bình thường bằng cách điều chỉnh mức năng lượng, sự trao đổi chất, nhiệt độ...

Suy Dinh Dưỡng Ở Người Trưởng Thành Khắc Phục Như Thế Nào? Suy Dinh Dưỡng Ở Người Trưởng Thành Khắc Phục Như Thế Nào?
Suy dinh dưỡng ở người trưởng thành là một tình trạng thiếu hụt các dưỡng chất cần thiết, dẫn đến sức khỏe yếu kém và nguy cơ mắc nhiều bệnh tật.

Căng Thẳng, Stress Ở Phụ Nữ Mang Thai Và Sau Sinh Nguy Hiểm Như Thế Nào? Căng Thẳng, Stress Ở Phụ Nữ Mang Thai Và Sau Sinh Nguy Hiểm Như Thế Nào?
Theo thống kê, có khoảng 10% - 15% phụ nữ sẽ bị trầm cảm, căng thẳng, stress khi mang thai hoặc sau khi sinh, dấu hiệu bà bầu bị stress thường là tâm trạng thất...

© Bản quyền thuộc về TRUNG TÂM TINH DẦU THÔNG ĐỎ HÀN QUỐC EDALLY BH. Thiết kế bởi hpsoft.vn
Gọi ngay: 0902158663
messenger icon zalo icon