Ngày 16/9/2026, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) và Hiệp hội Nghiên cứu Đái tháo đường châu Âu (EASD) đã công bố báo cáo đồng thuận cập nhật về quản lý đái tháo đường típ 1 ở người trưởng thành.
So với phiên bản năm 2021, tài liệu mới mở rộng đáng kể phạm vi: từ chẩn đoán chính xác, giáo dục tự quản lý, dinh dưỡng, vận động, sức khỏe tâm lý, công nghệ điều trị cho đến béo phì, nguy cơ tim mạch, thai kỳ, điều trị nội trú và những liệu pháp có khả năng làm chậm tiến triển của bệnh. Dưới đây là những điểm thực hành đáng chú ý nhất.
Đái tháo đường típ 1 có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào. Báo cáo dẫn các dữ liệu cho thấy hơn 40% người mắc bệnh sau 30 tuổi ban đầu được điều trị như đái tháo đường típ 2. Nguy cơ chẩn đoán nhầm càng cao khi người bệnh thừa cân hoặc béo phì.
Không có một triệu chứng, đặc điểm ngoại hình hay xét nghiệm đơn lẻ nào đủ để khẳng định chẩn đoán trong mọi trường hợp. Nhiễm toan ceton có thể gặp trong đái tháo đường típ 1, nhưng cũng có thể xuất hiện ở đái tháo đường típ 2 có khuynh hướng nhiễm ceton hoặc liên quan thuốc ức chế SGLT2.
Khi nghi ngờ đái tháo đường típ 1, xét nghiệm kháng thể kháng tế bào đảo tụy được ưu tiên, bắt đầu bằng kháng thể GAD; nếu âm tính, có thể xét nghiệm tiếp IA-2 và/hoặc ZnT8. Khi thực hiện đầy đủ ba loại kháng thể, khoảng 90–95% trường hợp có biểu hiện lâm sàng của đái tháo đường típ 1 sẽ cho kết quả dương tính. Tuy nhiên, kháng thể âm tính vẫn không loại trừ hoàn toàn bệnh.
C-peptide cung cấp thêm thông tin về khả năng bài tiết insulin nội sinh, đặc biệt khi kháng thể âm tính hoặc diễn biến lâm sàng không điển hình. C-peptide không nên được diễn giải tách rời thời điểm lấy mẫu, đường huyết đồng thời, chức năng thận và khoảng thời gian kể từ một biến cố tăng hoặc hạ đường huyết cấp.
Một điểm đáng chú ý khác: thuật ngữ “đái tháo đường tự miễn tiềm ẩn ở người trưởng thành” - LADA - không nên khiến bác sĩ trì hoãn insulin khi người bệnh đã có biểu hiện thiếu insulin. Báo cáo xem đây chủ yếu là một phổ tiến triển chậm của đái tháo đường típ 1, thay vì một thể bệnh hoàn toàn tách biệt.
Bệnh không bắt đầu tại thời điểm đường huyết tăng rõ hoặc người bệnh phải nhập viện vì nhiễm toan ceton:
Giai đoạn 1: có từ hai kháng thể đảo tụy trở lên nhưng đường huyết còn bình thường.
Giai đoạn 2: đã xuất hiện rối loạn đường huyết nhưng chưa đủ tiêu chuẩn đái tháo đường lâm sàng.
Giai đoạn 3: xuất hiện đái tháo đường có triệu chứng hoặc đạt tiêu chuẩn chẩn đoán thông thường.
Việc phát hiện bệnh từ giai đoạn sớm có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm toan ceton khi chẩn đoán, tạo thời gian giáo dục người bệnh và chuẩn bị tâm lý. Tuy vậy, sàng lọc rộng rãi còn đặt ra nhiều vấn đề về chi phí, khả năng tiếp cận, lo âu tâm lý và nguy cơ dương tính giả.
Teplizumab - một kháng thể kháng CD3 - là liệu pháp đầu tiên được phê duyệt tại một số khu vực nhằm trì hoãn chuyển từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3. Một liệu trình truyền trong 14 ngày có thể trì hoãn thời điểm xuất hiện đái tháo đường lâm sàng trung vị khoảng 2-3 năm ở người nguy cơ cao từ 8 tuổi trở lên. Tuy nhiên, đây không phải phương pháp chữa khỏi bệnh; phần lớn người tham gia nghiên cứu còn trẻ và khả năng tiếp cận thuốc phụ thuộc từng quốc gia.
Theo ADA/EASD 2026, theo dõi đường huyết liên tục - CGM - là phương pháp ưu tiên và là chuẩn chăm sóc đối với người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 1. CGM không chỉ cung cấp một con số đường huyết, mà còn cho biết xu hướng tăng giảm, cảnh báo nguy hiểm, thời gian trong vùng mục tiêu và mức độ dao động đường huyết.
Hệ thống phân phối insulin tự động - AID, thường được gọi là hệ thống vòng kín lai - được xem là phương pháp đưa insulin tối ưu nếu người bệnh có thể sử dụng thường xuyên và được đào tạo đầy đủ. Hệ thống kết hợp máy theo dõi đường huyết, bơm insulin và thuật toán tự điều chỉnh lượng insulin.
Tuy nhiên, phần lớn thiết bị hiện nay chưa hoàn toàn “tự động”. Người dùng vẫn cần khai báo bữa ăn, ước tính carbohydrate và thông báo trước khi vận động. Hiệu quả của thiết bị phụ thuộc nhiều vào đào tạo, kỹ năng sử dụng và khả năng xử trí khi cảm biến hoặc bơm gặp sự cố.
Ngay cả khi đang dùng CGM, tất cả người bệnh vẫn cần có máy đo đường huyết mao mạch dự phòng và phương tiện xét nghiệm ceton máu hoặc nước tiểu.
Đối với phần lớn người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 1, các mục tiêu tham khảo gồm:
HbA1c dưới 7%.
Thời gian trong khoảng 3,9-10,0 mmol/L: trên 70%.
Thời gian dưới 3,9 mmol/L: dưới 4%.
Thời gian dưới 3,0 mmol/L: dưới 1%.
Thời gian trên 10,0 mmol/L: dưới 25%.
Thời gian trên 13,9 mmol/L: dưới 5%.
Hệ số biến thiên đường huyết: dưới 36%.
Những mục tiêu này phải được cá thể hóa. Người cao tuổi suy yếu, có hạ đường huyết nặng hoặc tuổi thọ hạn chế có thể cần mục tiêu ít nghiêm ngặt hơn. Ngược lại, thai phụ và một số người có khả năng tự quản lý tốt có thể hướng tới mục tiêu chặt chẽ hơn nếu không làm tăng hạ đường huyết.
HbA1c vẫn có giá trị tiên lượng quan trọng, nhưng không phản ánh được dao động đường huyết hoặc những cơn hạ đường huyết. Hai người có cùng HbA1c hoàn toàn có thể có mức độ an toàn rất khác nhau.
Insulin ngoại sinh suốt đời vẫn là điều trị thiết yếu đối với đái tháo đường típ 1. Insulin analog được ưu tiên; khi điều trị nhiều mũi, bút tiêm thường thuận tiện và chính xác hơn lọ insulin kèm bơm tiêm.
Các insulin nền thế hệ mới như glargine U300 hoặc degludec có thời gian tác dụng dài, ít biến thiên và có thể giảm hạ đường huyết ở một số người bệnh. Trong khi đó, insulin nền tiêm một lần mỗi tuần hiện chưa được khuyến cáo sử dụng thường quy trong đái tháo đường típ 1 do các thử nghiệm ghi nhận hạ đường huyết mức độ 2 và 3 nhiều hơn, tập trung vào những ngày giữa chu kỳ tiêm.
Bác sĩ cũng cần khám vị trí tiêm hoặc đặt dây truyền insulin ít nhất mỗi năm. Loạn dưỡng phì đại mô mỡ do tiêm lặp lại cùng vị trí rất thường gặp, có thể làm insulin hấp thu thất thường và gây cả tăng lẫn hạ đường huyết.
Đây là điểm cần được hiểu thật thận trọng. Metformin chỉ đem lại lợi ích khiêm tốn và thường không bền vững đối với HbA1c, cân nặng và liều insulin; vì vậy không được khuyến cáo thường quy trong đái tháo đường típ 1.
Các thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 hoặc đồng vận kép GLP-1/GIP như semaglutide và tirzepatide đang cho thấy tiềm năng giảm cân, giảm liều insulin và cải thiện một phần kiểm soát đường huyết. Tuy nhiên, các thuốc này chưa được phê duyệt để kiểm soát đường huyết trong đái tháo đường típ 1. Khi được chỉ định điều trị béo phì ở người mắc đái tháo đường típ 1, cần lựa chọn kỹ, điều chỉnh insulin chủ động và theo dõi nguy cơ hạ đường huyết, nhiễm ceton, buồn nôn, nôn và chậm làm rỗng dạ dày.
Thuốc ức chế SGLT2 có thể cải thiện đường huyết, cân nặng và huyết áp, nhưng làm nguy cơ nhiễm toan ceton tăng khoảng 2,57–5,96 lần. Đáng lo ngại hơn, một phần trường hợp là nhiễm toan ceton với đường huyết không quá cao. Vì vậy, nhóm thuốc này không được khuyến cáo thường quy và hiện không được phê duyệt để điều trị đái tháo đường típ 1.
Thông điệp quan trọng là: trước khi nghĩ đến thuốc bổ trợ, cần tối ưu insulin, công nghệ theo dõi và giáo dục tự quản lý.
Bác sĩ nên chủ động hỏi người bệnh: “Anh/chị có luôn nhận biết được khi đường huyết xuống thấp không?” và “Thường bắt đầu có triệu chứng ở mức đường huyết nào?”. Khoảng 25–30% người mắc đái tháo đường típ 1 có suy giảm nhận biết hạ đường huyết, làm tăng đáng kể nguy cơ hạ đường huyết nặng.
Với hạ đường huyết còn tỉnh táo, nguyên tắc thông thường là dùng khoảng 15 g glucose hoặc carbohydrate hấp thu nhanh và kiểm tra lại sau 15 phút. Khi đang sử dụng hệ thống AID, đôi khi chỉ cần 5-10 g vì thiết bị có thể đã giảm hoặc ngừng truyền insulin; điều trị quá mức dễ gây tăng đường huyết bật lại. Mỗi người bệnh có nguy cơ hạ đường huyết nặng nên được chuẩn bị glucagon và hướng dẫn người thân cách sử dụng.
Nhiễm toan ceton phần lớn có thể phòng ngừa. Người bệnh cần một kế hoạch rõ ràng cho những ngày ốm: uống loại dịch nào, kiểm tra đường huyết và ceton bao lâu một lần, khi nào cần tiêm bổ sung insulin và dấu hiệu nào đòi hỏi đến cơ sở y tế. Đường huyết không quá cao không loại trừ nhiễm toan ceton, đặc biệt trong thai kỳ, khi dùng bơm insulin hoặc thuốc ức chế SGLT2.
Thừa cân, béo phì ở người mắc đái tháo đường típ 1 ít nhất cũng phổ biến như trong dân số chung. Ngoài các nguyên nhân thông thường, ăn thêm để phòng hoặc xử trí hạ đường huyết và tình trạng insulin ngoại vi cao do tiêm dưới da cũng có thể góp phần làm tăng cân.
Điều trị cần phối hợp dinh dưỡng, vận động, thuốc quản lý béo phì thế hệ mới và phẫu thuật chuyển hóa khi có chỉ định. Chế độ ăn rất ít carbohydrate hoặc ketogenic cần đặc biệt thận trọng vì có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết, giảm dự trữ glycogen và dẫn đến thiếu insulin tương đối hoặc nhiễm toan ceton.
Nguy cơ tim mạch ở đái tháo đường típ 1 tăng rõ rệt. Nếu dung nạp an toàn, mục tiêu huyết áp điều trị là dưới 130/80 mmHg; ở người có nguy cơ tim mạch hoặc bệnh thận cao, có thể cân nhắc mục tiêu dưới 120/80 mmHg. Statin nên được xem xét ở người trên 40 tuổi và ở người 20-39 tuổi nếu nguy cơ tim mạch 10 năm đủ cao. Mục tiêu LDL-cholesterol được đề xuất là dưới 1,8 mmol/L trong dự phòng tiên phát và dưới 1,4 mmol/L khi đã có bệnh tim mạch.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nhiều khuyến cáo tim mạch hiện vẫn phải ngoại suy từ các nghiên cứu ở đái tháo đường típ 2 hoặc dân số không mắc đái tháo đường vì còn thiếu thử nghiệm kết cục tim mạch riêng cho típ 1.
Ở người trưởng thành, việc tầm soát thường quy bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh thần kinh ngoại biên thường được bắt đầu sau 5 năm kể từ khi chẩn đoán đái tháo đường típ 1, sau đó điều chỉnh tần suất theo nguy cơ.
Chụp đáy mắt hoặc khám mắt toàn diện.
Tỷ số albumin/creatinin niệu và mức lọc cầu thận ước tính.
Khám bàn chân và đánh giá cảm giác bảo vệ bằng monofilament 10 g.
Khai thác triệu chứng bệnh thần kinh tự chủ như chóng mặt tư thế, nhịp tim nhanh khi nghỉ, rối loạn tiêu hóa, rối loạn cương hoặc bất thường tiết mồ hôi.
Một kết quả albumin niệu tăng đơn độc chưa đủ để kết luận bệnh thận do đái tháo đường. Cần xác nhận ít nhất hai trong ba mẫu bất thường trong vòng 3-6 tháng, sau khi loại trừ vận động gắng sức, nhiễm trùng tiết niệu, mất nước, kinh nguyệt và các nguyên nhân khác.
Khoảng 20-40% người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 1 trải qua căng thẳng liên quan bệnh. Trầm cảm và lo âu phổ biến gấp khoảng hai lần so với người không mắc đái tháo đường. Gánh nặng phải liên tục tính toán thức ăn, insulin, vận động, cảnh báo thiết bị và nỗi sợ biến chứng có thể dẫn đến kiệt sức vì bệnh.
ADA/EASD khuyến cáo đánh giá sức khỏe tâm lý định kỳ, ít nhất mỗi năm. Nhóm chăm sóc đái tháo đường lý tưởng nên có sự tham gia hoặc hỗ trợ của chuyên gia sức khỏe tâm thần. Giáo dục tự quản lý cần được cung cấp khi mới chẩn đoán, định kỳ hằng năm, khi chưa đạt mục tiêu, khi xuất hiện biến chứng và tại các giai đoạn chuyển tiếp trong cuộc sống hoặc điều trị.
Ở người cao tuổi, mục tiêu điều trị nên dựa trên chức năng nhận thức, khả năng tự chăm sóc, mức độ suy yếu, sự hỗ trợ của người thân và tiền sử hạ đường huyết - không chỉ dựa vào tuổi. Không nên ngừng hoặc từ chối CGM và AID chỉ vì người bệnh lớn tuổi.
Trong thai kỳ, mục tiêu đường huyết chặt chẽ hơn; khoảng mục tiêu trên CGM là 3,5-7,8 mmol/L. AID nên được tạo điều kiện sử dụng trước, trong và sau thai kỳ khi có đội ngũ đủ kinh nghiệm, nhưng không phải hệ thống nào cũng đã được phê duyệt riêng cho thai phụ.
Trong bệnh viện, một sai sót đặc biệt nguy hiểm là ngừng insulin nền ở người mắc đái tháo đường típ 1 khi nhịn ăn, làm thủ thuật hoặc phẫu thuật. Đối với phần lớn người bệnh nội trú, mục tiêu đường huyết là 7,8-10,0 mmol/L; có thể hướng tới 5,6–10,0 mmol/L ở người không nguy kịch nếu đạt được mà không gây hạ đường huyết.
Đồng thuận ADA/EASD 2026 cho thấy quản lý đái tháo đường típ 1 đã chuyển từ tư duy “kê insulin và theo dõi HbA1c” sang một mô hình toàn diện hơn:
Chẩn đoán đúng - lựa chọn insulin và công nghệ phù hợp - đánh giá cả thời gian trong vùng mục tiêu - chủ động phòng hạ đường huyết và nhiễm toan ceton - quản lý béo phì, nguy cơ tim mạch, biến chứng và sức khỏe tâm lý.
Công nghệ ngày càng tiến bộ, nhưng không thể thay thế hoàn toàn giáo dục, sự đồng hành của nhân viên y tế và khả năng tự quản lý của người bệnh. Đích đến cuối cùng không chỉ là một con số đường huyết đẹp, mà là giúp người mắc đái tháo đường típ 1 sống lâu hơn, an toàn hơn và có chất lượng cuộc sống tốt hơn.
Tham khảo các sản phẩm chăm sóc sức khỏe chính hãng tại: https://edallyhanquoc.vn/thuc-pham-bao-ve-suc-khoe-edally-bh-han-quoc.html
Mọi thông tin chi tiết về sản phẩm cũng như chính sách đại lý xin vui lòng liên hệ edallyhanquoc.vn qua Hotline/Zalo: 0902.158.663 để được tư vấn và hỗ trợ nhanh nhất.
Nguồn: Holt RIG và cộng sự. “The management of type 1 diabetes in adults. The updated 2026 consensus report by the ADA and EASD.” Diabetologia, công bố trực tuyến ngày 16/9/2026. Xem toàn văn báo cáo dưới comment.
Chia sẻ bài viết:
.png)
건강미인의 에너지 비법
TRUNG TÂM TINH DẦU THÔNG ĐỎ HÀN QUỐC EDALLY BH
BT 09 - KĐT Resco, Đông Ngạc, Hà Nội, Việt Nam
Phố Tăng, Đông Hưng, Hưng Yên, Việt Nam
0902.158.663 / 0908.062.668
edallyhq@gmail.com